Liên kết website

Mở liên kết

Đánh giá trang web

Nội dung trang web có giúp ích gì cho bạn không ?




Bình chọn

Lượt truy cập: 983,444

Đang online: 38

Hóa học: Những câu hỏi tại sao?

30/03/2014 14:24:53 GMT+7

1. Làm thế nào để tạo khói màu trên sân khấu ?

Trong các buổi biểu diễn ca nhạc hay trong các đám cưới, người ta thường tạo khói trắng bằng cách thả các viên đá băng khô (CO2 rắn) vào các ly đựng nước nóng. CO2 rắn thăng hoa nhanh, làm giảm nhiệt độ của vùng không khí xung quanh ly nước khiến cho hơi nước ngưng tụ tạo thành đám sương mù màu trắng. Để tạo hiệu ứng khói màu, người ta chiếu ánh sáng màu lên màn sương này.

Khói trắng được tạo thành do nhiệt độ bị hạ xuống khi CO2 thăng hoa

2. Vì sao nên bôi nước vôi vào vết côn trùng đốt ?

Theo kinh nghiệm dân gian truyền lại thì khi bị côn trùng đốt, nếu bôi nước vôi vào vết đốt thì vết thương sẽ mất đi và không còn cảm giác ngứa rát nữa.

Hiện tượng này, ngày nay hoá học đã giải thích được rõ ràng: trong nộc độc của một số côn trùng như: ong, kiến, muỗi… có chứa một lượng a xit fomic  gây bỏng da và đồng thời gây rát , ngứa. Ngoài ra, trong nọc độc ong còn có cả HCl, H3PO4, cholin… nên khi bị ong đốt, da sẽ phồng rộp lên  và rất rát. Người ta vội lấy nước vôi trong hay dung dịch xút để  bôi vào vết côn trùng đốt. Khi đó xảy ra phản ứng trung hoà làm cho vết phồng xẹp xuống và không còn cảm giác rát ngứa.

3. Làm thế nào để phân biệt muối iod và muối thường ?

Muối iod ngoài thành phần chính là muối ăn (NaCl) còn có một lượng nhỏ NaI (nhằm cung cấp iod cho cơ thể).

Để phân biệt muối thường và muối iod ta vắt nước chanh vào muối, sau đó thêm vào một ít nước cơm. Nếu thấy màu xanh đậm xuất hiện chứng tỏ muối đó là muối iod.

Giải thích: Nước chanh có môi trường axit. Trong môi trường axit, NaI không bền bị phân hủy một phần thành I2. I2 mới tạo thành tác dụng với hồ tinh bột có trong nước cơm tạo thành phức chất có màu xanh đậm.

4. Vì sao UPSA C lại sủi bọt khi được cho vào nước ?

Thành phần chính của viên UPSA C là vitamin C (axit ascorbic) và natri hidrocacbonat (NaHCO3).

Khi được cho vào nước thì viên thuốc sủi tan rất nhanh và tạo nhiều bọt khí

Khi ở trạng thái rắn, hai chất này không tác dụng với nhau. Nhưng khi viên UPSA C được cho vào nước, axit ascorbic và NaHCO3 tan vào dung dịch và phản ứng với nhau, tạo ra khí CO2 dưới dạng bọt khí thoát ra từ trong lòng dung dịch, các bọt khí này làm hoạt chất của thuốc tan vào trong nước nhanh hơn dạng viên nén thông thường.

5. Chất gây nghiện là những chất gì ?

Chất gây nghiện (hay còn gọi là ma túy) dù ở dạng nào khi đưa vào cơ thể con người đều có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lí của cơ thể. Hóa học đã nghiên cứu làm rõ thành phần hóa học của những chất ma túy tự nhiên, ma túy nhân tạo và tác dụng sinh lí của chúng. Từ đó, chúng ta có thể sử dụng chúng như là một loại thuốc chữa bệnh hoặc ngăn chặn tác hại của các chất gây nghiện.

Ma túy gồm những chất bị cấm (như thuốc phiện, cần sa, heroin, cocain), một số thuốc được dùng theo chỉ dẫn của thầy thuốc (như moocphin, seduxen), những chất hiện nay chưa bị cấm sử dụng (như thuốc lá, rượu…).

Ma túy có tác dụng ức chế, giảm đau, kích thích mạnh mẽ hoặc gây ảo giác. Chúng được phân loại theo nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo hoặc theo mức độ gây nghiện.

Sau đây xin giới thiệu một số chất gây nghiện phổ biến.

- Rượu (C2H5OH): Tùy thuộc nồng độ và cách sử dụng, rựou có thể tác dụng tốt hoặc làm suy yếu nghiêm trọng sức khỏe con người. Với nhiều người, uống một lượng nhỏ rượu cũng dẫn đến phản ứng chậm chạp, xử trí kém linh hoạt, thần kinh dễ bị kích động gây ra những trường hợp đáng tiếc như tai nạn, hành động bạo ngược… Khi uống rượu đến giai đoạn say (nồng độ etanol trong máu từ 2-3g/ml) người ta thường bị rối loạn nhận thức, quá trình ức chế giảm đồng thời làm tăng quá trình hưng phấn một cách giả tạo. Do đó người say sẽ nói nhiều, hoạt động nhiều nhưng thường chẳng đâu vào đâu, năng lực định hướng về không gian và thời gian bị rối loạn. Ngoài ra, trong rượu thường chưa một chất độc hại là etanal CH3-CHO, gây nôn nao khó chịu, nếu nồng độ cao có thể dẫn đến tử vong.

- Nicotine (C10H14N2): có nhiều trong cây thuốc lá. Nó là chất lỏng sánh như dầu, không màu, có mùi thuốc lá, tan được trong nước. Khi hút thuốc lá, nicotine thấm vào máu và theo dòng máu đi vào phổi. Nicotine là một trong những chất độc cực mạnh (từ 1 đến 2 giọt nicotine có thể giết chết một con chó), tính độc của nó có thể sánh với axit xianhidric HCN. Nicotine chỉ là một trong số các chất hóa học độc hại có trong khói thuốc lá (trong khói thuốc lá có chứa tới 1400 hợp chất hóa học khác nhau). Dung dịch nicotine trong nước được dùng làm thuốc trừ sâu cho cây trồng. Những người nghiện thuốc lá thường mắc bệnh ung thư phổi và những bệnh ung thư khác.

CTCT của nicotine

- Caffeine (C8H10N4O2): có nhiều trong hạt cà phê, lá chè. Caffeine là chất kết tinh không màu, vị đắng, tan trong nước và rượu. Caffeine dùng trong y học với lượng nhỏ có tác dụng gây kích thích thần kinh. Nếu dùng caffeine quá mức sẽ gây bệnh mất ngủ và gây nghiện.

CTCT của caffeine

- Morphine (C17H19NO3): có trong cây thuốc phiện, còn gọi là cây anh túc. Morphine có tác dụng làm giảm hoặc mất cảm giác đau đớn. Từ morphine lại tinh chế được heroin có tác dụng hơn morphine nhiều lần, độc và dễ gây nghiện.

CTCT của morphine

- Hassish: là hoạt chất có trong cây cần sa còn gọi là bồ đà, có tác dụng chống co giật, chống nôn mửa nhưng có tác dụng kích thích mạnh và gây ảo giác.

- Thuốc an thần: như là seduxen, meprobamat… có tác dụng chữa bệnh, gây ngủ, dịu cơn đau nhưng lại có thể gây nghiện.

- Amphetamine (C9H13N): chất kích thích hệ thần kinh dễ gây nghiện, gây choáng, rối loạn thần kinh nếu dùng thường xuyên.

CTCT của amphetamine

Nghiện ma túy sẽ dẫn đến rối loạn tâm, sinh lí. Thí dụ như: rối loạn tiêu hóa, rối loạn chức năng thần kinh, rối loạn tuần hoàn, hô hấp. Tiêm chích ma túy gây trụy tim mạch dẫn đến tử vong.

Do đó, để phòng chống ma túy, không được dùng thuốc giảm đau hay thuốc an thần quá liều chỉ định của bác sĩ, không sử dụng thuốc khi không biết tính năng tác dụng và cần phải luôn nói không với ma túy.

6. Axit clohidric có vai trò như thế nào đối với cơ thể ?

Axit clohidric có vai trò rất quan trọng đối với quá trình trao đổi chất của cơ thể. Trong dung dịch dạ dày của người có axit clohidric với nồng độ khoảng từ 0,0001 đến 0,001 mol/l (có độ pH tương ứng là 4 và 3). Ngoài việc hòa tan các muối khó tan, axit clohidric còn là chất xúc tác cho các phản ứng thủy phân các chất gluxit (chất đường, bột) và chất protein (chất đạm) thành các chất đơn giản hơn để cơ thể có thể hấp thụ được.

Lượng axit clohidric trong dịch vị dạ dày người nhỏ hơn hoặc lớn hơn mức bình thường đều gây bệnh cho người. Khi trong dịch vị dạ dày có nồng độ axit clohidric nhỏ hơn 0,0001 mol/l (pH > 4,5), người ta mắc bệnh khó tiêu, ngược lại nồng độ lớn hơn 0,001 mol/l (pH < 3,5), người ta mắc bệnh ợ chua. Một số thuốc chữa đau dạ dày có chứa muối natri hidrocacbonat NaHCO3 (còn gọi là thuốc muối) có tác dụng trung hòa bớt axit trong dạ dày.

NaHCO3 + HCl -> NaCl + CO2 + H2O

Để cơ thể khỏe mạnh, con người cần phải được cung cấp đầy đủ các nguyên tố hóa học cần thiết. Có những nguyên tố cần được cung cấp với khối lượng lớn và có những nguyên tố cần được cung cấp với khối lượng nhỏ ( được gọi là nguyên tố vi lượng). Iot là một nguyên tố vi lượng hết sức cần thiết đối với con người. Theo các nhà khoa học mỗi ngày cơ thể con người cần được cung cấp từ 1.10-4 đến 2.10-4 gam nguyên tố iot.

Cơ thể tiếp nhận được phần iot cần thiết dưới dạng hợp chất của iot có sẵn trong muối ăn và một số loại thực phẩm. Nhưng việc thiếu hụt iot vẫn thường xảy ra. Hiện nay, tính trên toàn thế giới một phần ba dân số bị thiếu iot trong cơ thể. Ở Việt Nam, theo điều tra mới nhất, 94% số dân thiếu hụt iot ở những mức độ khác nhau. Thiếu hụt iot trong cơ thể dẫn đến hậu quả rất tai hại. Thiếu iot làm não bị hư hại nên người thiếu iot trở nên đần độn, chậm chạp, có thể điếc, câm, liệt chi, lùn. Thiếu iot còn gây ra bệnh bướu cổ và hàng loạt rối loạn khác, đặc biệt nguy hiểm đối với bà mẹ và trẻ em.

Một người bị bệnh bướu cổ

Để khắc phục tình trạng thiếu iot, người ta phải cho thêm hợp chất của iot vào thực phẩm như: muối ăn, sữa, kẹo… Việc dùng muối ăn làm phương tiện truyền tải iot vào cơ thể người được nhiều nước áp dụng. Muối iot là muối ăn có trộn thêm một lượng nhỏ hợp chất của iot ( thường là KI hoặc KIO3 ). Người ta cũng cho thêm hợp chất iot vào bột canh, nước mắm…

Việc dùng muối iot thật dễ dàng, đơn giản và giúp bảo vệ sức khỏe cho mọi người. Về mùi vị, màu sắc, muối iot không khác gì muối ăn thường. Tuy nhiên, hợp chất iot có thể bị phân hủy ở nhiệt độ cao nên phải thêm muối iot sau khi thực phẩm đã được nấu chín.

7. Vì sao các đồ vật bằng bạc để lâu ngày thường bị xám đen ?

Do bạc tác dụng với khí CO2 và khí H2S có trong không khí tạo ra bạc sunfua có màu đen.
4Ag + O2 + 2H2S  2Ag2S + 2H2O

8. Vì sao dùng đồ dùng bằng bạc đựng thức ăn, thức ăn lâu bị ôi ?

Khi bạc gặp nước sẽ có một lượng rất nhỏ đi vào nước thành ion. Ion bạc có tác dụng diệt khuẩn rất mạnh. Chỉ cần 1/5 tỷ gam bạc trong 1 lít nước cũng đủ diệt các vi khuẩn. Không có vi khuẩn phát triển nên thức ăn không bị ôi thiu.

9. Vì sao dùng dao bằng thép cắt lê, táo thì bề mặt chỗ cắt sẽ bị đen ?

Trong lê, táo và nhiều loại trái cây có chứa tanin. Tanin còn gọi là axit tanic, có tác dụng với sắt tạo thành sắt (III) tanat có màu đen. Tanin có vị chát, quả hồng có vị chát do rất nhiều tanin. Tanin tinh khiết là chất bột màu vàng, dễ tan trong nước. Có khi không dùng dao bằng sắt để cắt lê, táo, hồng mà sau một lúc, chỗ cắt vẫn bị thâm đen là do kết quả của nhiều biến đổi hoá học. Trong phân tử tanin có chứa nhiều gốc phenol. Các gốc này rất mẫn cảm với ánh sáng và rất dễ bị oxit có màu đen. Vì vậy tanin thường được bảo quản trong các bình thuỷ sẫm màu. Trong công nghiệp tanin dùng để thuộc da và chế mực màu đen.

10. Vì sao hơ con dao ướt lên ngọn lửa, con dao sẽ có màu xanh ?

Đó là do ở nhiệt độ cao sắt tác dụng với nước tạo nên oxit sắt từ Fe3O4 lấp lánh màu lam. Lớp áo màu lam này là tấm màng bảo vệ sắt, làm cho sắt không bị gỉ và không bị ăn mòn.

Ở các nhà máy người ta đem các chế phẩm bằng thép cho vào dung dịch natri nitrat hoặc hỗn hợp natri nitrat và natri hydroxit ở nhiệt độ từ 140 đến 1500. Sau một thời gian nhất định trên bề mặt sẽ sinh ra một lớp mỏng màu lam, sau đó lấy ra và nhanh chóng cho vào nước lạnh, rồi lại đem xử lý bằng nước xà phòng, dầu nóng mấy phút. Người ta gọi biện pháp này là “tôi muối”. Các chế phẩm qua tôi muối sẽ có tuổi thọ dài hơn.

11. Vì sao thuỷ tinh thường có màu xanh ?

Do có chứa hợp chất của sắt. Nếu chứa hợp chất sắt (II) thì có màu xanh còn chứa hợp chất sắt (III) thì có màu vàng nâu. Nói chung thuỷ tinh chứa từ 1 đến 2% sắt thì có màu xanh hoặc vàng nâu. Thuỷ tinh quang học không màu chỉ chứa không quá 3 phần vạn sắt.

12. Vì sao thuỷ tinh lại có thể tự thay đổi màu ?

Việc chế tạo thuỷ tinh đổi màu cũng tương tự như chế tạo thuỷ tinh thường, chỉ khác là người ta thêm vào nguyên liệu chế tạo thuỷ tinh một ít chất cảm quang như bạc clorua hay bạc bromua… và một ít chất tăng độ nhạy như đồng clorua. Chất nhạy cảm làm cho thuỷ tinh biến đổi nhaỵ hơn.

Sự đổi màu có thể giải thích như sau: Khi bị chiếu sáng, bạc clorua tách thành bạc và clo. Bạc sẽ làm cho thuỷ tinh sẵn màu. Khi không chiếu sáng nữa, bạc và clo gặp nhau, tạo thành bạc clorua không màu, làm cho thuỷ tinh sẩm màu. Khi không chiếu sáng nữa, bạc và clo gặp nhau, tạo thành bạc clorua không màu, làm cho thuỷ tinh lại trong suốt.

13.Vì sao thêm muối quá sớm thì đậu không nhừ ?

Các bà nội trợ thường nhắc nhở: Khi nấu đậu chớ cho muối quá sớm. Điều này có thể giải thích một cách khoa học như sau: Trong đậu nành khô, nước rất ít. Do đó có thể coi nó như một dung dịch đặc và lớp vỏ là một màng bán thấm. Khi nấu, nước bên ngoài sẽ thẩm thấu vào trong đậu làm cho đậu nành nở to ra, sau một thời gian các tế bào trong hạt đậu bị phá vở làm cho đậu mềm.

Nếu khi nấu đậu ta cho muối quá sớm thì nước ở bên ngoài có thể không đi vào trong đậu, thậm chí nước trong đậu sẽ thẩm thấu ra ngoài do nồng độ muối trong nước muối bên ngoài lớn hơn nhiều so với nồng độ muối trong đậu nếu cho muối quá nhiều.

Thông thường khi nấu cháo đậu xanh, cháo đậu đỏ không nên thêm đường quá sớm hoặc nấu thịt bò, thịt lợn không nên cho muối quá sớm vì cũng sẽ khó nấu nhừ.

14. Vì sao ăn đ ường glucozơ lại cảm thấy đấu lưỡi mát lạnh ?

Nếu bạn cho một thìa đường gluczơ vào lưỡi trong cảm giác ngọt ngào cảm nhận còn có cảm giác mát lạnh. Vì sao vậy ? Glucozơ tạo ra một dung dịch đường trên lưỡi, sự phân bố các phân tử đường trong quá trình hoà tan là quá trình thu
nhiệt, do đó ta cảm thấy đầu lưỡi mát lạnh.

15. Vì sao thức ăn nấu khê cháy dễ gây ung thư?

Theo các chuyên gia của tổ chức Y tế thế giới, nấu thức ăn quá cháy dễ gây ung thư. Chất asparagin trong thực phẩm dưới nhiệt độ cao sẽ kết hợp với đường tự nhiên trong rau quả, hay các thực phẩm giàu chất cacbohyđrat tạo thành chất acylamind, tác nhân chính gây ra bệnh ung thư.

Ăn nhiều thịt hun khói và các chất bảo quản thực phẩm chứa nitrosamin có trong rau ngâm, thịt hun khói làm gia tăng ung thư miệng, thực quản, thanh quản, dạ dày. Ăn nhiều chất béo có liên quan đến ung thư vú, đại tràng, thực tràng, niêm mạc tử cung.

Thuốc trừ sâu nitrofen là chất gây ung thư và dị tật bào thai. Hoá chất độc đáo hại ethinnylestradiol và bisphe – nol A có trong túi nilon và hộp nhựa tái sinh dùng đựng thức ăn gây hại cho bào thai.

16. Vì sao gạo nếp lại dẻo ?

Tinh bột có 2 loại amilozơ và amilopection nhưng không tách rời nhau, trong mỗi hạt tinh bột, amilopectin là vỏ bọc nhân amilozơ. Amilozơ tan được trong nước, amilopectin hầu như không ta, trong nước nóng amilopectin trương lên tạo thành hồ. Tính chất này quyết định đến tính dẻo của hạt có tinh bột. Trong mỗi hạt tinh bột, lượng amilopectin chiếm 80% amilozơ chiếm khoảng 20% nên cơm gạo tẻ, ngô tẻ, bánh mì, thường có độ dẻo bình thường. Tinh bột trong gạo nếp, ngô nếp chứa lượng amilopectin rất cao, khoảng 98% làm cho cơm nếp, xôi nếp, ngô nếp luộc…. rất dẻo, dẻo tới mức dính.

17. Vì sao nước mắt lại mặn ?

Nước mắt mặn là vì trong một lít nước mắt có dưới 6g muối. Nước mắt sinh ra từ tuyến lệ nằm ở phía trên mi ngoài của nhãn cầu. Nước mắt thu nhận được muối từ màu (trong một lít máu có 9g muối). Nước mắt có tác dụng bôi trơn nhãn cầu, làm cho nhãn cầu không bị khô, bị xước và vì có muối nên còn có tác dụng hạn chế bớt sự phát triển của vi khuẩn trong mắt.

18. Vì sao phía trên cùng của ngọn lửa lại có màu xanh ?

Vì ở chỗ đó nhiệt độ của ngọn lửa cao nhất. Bình thường khí nhiệt độ vượt quá 1.000oC thì ngọn lửa sẽ có màu xanh hoặc màu trắng, dưới 1.0000C có màu đỏ.

19. Vì sao axit nitric đặc lại làm thủng quần áo ?

Axit nitric đặc là một dung môi của xenlulozơ. Nếu bỏ một nhúm bông vào axit nitric đặc lắc nhẹ một lúc, nhúm bông sẽ tan hết.Khi axit nitric đặc dính vào quần áo nó sẽ hoà tan xenlulozơ ngay nên sẽ xuất hiện lỗ chỗ các lỗ thủng.Khi bị axit nitric loãng dây và quần áo, tuy quần áo không bị thủng ngày, nhưng khi quần áo khô, nồng độ axit tăng và trở thành đặc sẽ làm thủng ngay, nhưng khi quần áo khô, nồng độ axit tăng và trở thành đặc sẽ làm thủng quần áo.
Nếu quần áo bị dây axit nitric cần giặt ngay bằng một lượng lớn nước.

THÔNG BÁO

Thư viện ảnh